Sunday, March 23, 2014

Viêm khớp dạng thấp là gì?



Viem khop dang thap là một bệnh về khớp thường gặp bên cạnh viêm đa khớp, đây thực chất là bệnh thấp khớp mạn, tự miễn, hay gặp chủ yếu ở nữ giới.
 
viem khop dang thap
Viem khop dang thap (ảnh minh họa)
Nguyên nhân benh viem khop dang thap
Có thể là vi khuẩn, vi rút, dị nguyên,nhưng chưa được xác minh chắc chắn.
Bệnh có liên quan rõ rệt đến giới và tuổi.
Bệnh có tính chất gia đình và 60-70% bệnh nhân mang yếu tố kháng nguyên phù hợp tổ chức HLA-DR4 (trong khi ở người bình thường là 30%).
Sau sang chấn, cơ thể suy yếu, sinh đẻ, lạnh ẩm kéo dài.
Cơ chế sinh bệnh viem khop dang thap
Triệu chứng lâm sàng
Khởi phát: Bệnh viem khop dang thap 85% bắt đầu từ từ, tăng dần, 15% đột ngột với các dấu viêm cấp; đa số bằng viêm một khớp, đó là một trong các khớp bàn tay (cổ tay, bàn ngón, ngón gần), gối. Kéo dài từ vài tuần đến vài tháng rồi chuyển qua giai đoạn toàn phát.
Toàn phát: Viêm nhiều khớp.
Bệnh viem khop dang thap gặp som là các khớp ở chi, trội ở xa gốc: cổ tay, bàn ngón, ngón gần nhất là ngón 2 và ngón 3. Gối, cổ chân, bàn ngón và ngón chân.
Muộn là các khớp: Khuỷu, vai, háng, đốt sống cổ, thái dương hàm, ức đòn.
Xu hướng lan ra 2 bên và đối xứng: Sưng, đau và hạn chế vận động, ít nóng đỏ, có thể có nước ở khớp gối. Đau tăng nhiều về đêm gần sáng, cứng khớp buổi sáng. Các ngón tay có hình thoi, nhất là các ngón 2 và ngón 3. Biến dạng khớp đặc trưng xuất hiện chậm hơn: bàn tay gió thổi, bàn tay lưng lạc đà.
Triệu chứng ngoài khớp: Viem khop dang thap thường gây ra các biểu hiện như sốt nhẹ, da xanh, ăn ngủ kém, gầy, rối loạn thần kinh thực vật.
Biểu hiện cận khớp:
Hạt dưới da: Nổi gồ lên khỏi mặt da, chắc, không đau d: 0,5-2cm thường gặp ở trên xương trụ gần khớp khuỷu, trên xương chày gần khớp gối, số lượng từ một đến vài hạt. Da khô teo, phù 1 đoạn chi, hồng ban lòng bàn tay.
Teo cơ: rõ rệt ở vùng quanh khớp viêm, viêm gân: hay gặp gân Achille.
Bệnh viem khop dang thap rất ít kho gây tổn thương cơ tim kín đáo, có thể có viêm màng ngoài tim. Viêm màng phổi nhẹ, xơ phế nang.lách to và giảm bạch cầu trong hội chứng Felty, Xương mất vôi, gãy tự nhiên.
Ngoài ra bệnh còn có thể gây viêm giác mạc, viêm mống mắt, đè ép các dây thần kinh ngoại biên, thiếu máu nhược sắc, rối loạn thần kinh thực vật, nhiễm Amyloid có biểu hiện chủ yếu ở thận, thường xuất hiện rất muộn.
Cận lâm sàng: Gồm X quang, dấu sinh học và sinh thiết
X quang: Giai đoạn đầu thấy mất vôi ở vùng đầu xương. Sau đó là khuyết xương hay ăn mòn xương phần tiếp giáp với sụn khớp, rồi hẹp khe khớp. Sau cùng là huỷ phần sụn khớp và đầu xương gây dính và biến dạng khớp.
Sinh học: Gồm dấu viêm, rối loạn miễn dịch, dịch khớp. Tốc độ lắng máu tăng, α2 globulin tăng, hồng cầu giảm.
Waaler Rose: Phát hiện yếu tố thấp trong huyết thanh. Phản ứng dương tính khi ngưng kết với độ pha loãng huyết thanh bệnh nhân từ 1/32.
Dịch khớp: Giảm độ nhầy, tăng bạch cầu, tế bào hình nho 10% số tế bào dịch khớp. tế bào hình nho là những bạch cầu đa nhân trung tính đã nuốt những phức hợp miễn dịch.
Sinh thiết: Màng hoạt dịch hay hạt dưới da.
Sinh thiết màng hoạt dịch thấy năm tổn thương: sự tăng sinh các hình lông của màng hoạt dịch, tăng sinh các lớp phủ hình lông, xuất hiện những đám hoại tử giống như tơ huyết, tăng sinh mạch máu tân tạo, thâm nhập nhiều tế bào viêm quanh các mạch máu. Khi có từ ba tổn thương trở lên có thể hướng đến chẩn đoán xác định.
Sinh thiết hạt dưới da: Ở giữa là một đám hoại tử dạng tơ huyết, chung quanh bao bọc bởi nhiều tế bào Lympho và tương bào.
Chẩn đoán: Cần phải sớm đ điều trị bệnh viem khop dang thap có kết quả.
Tiêu chuẩn của hội thấp học Mỹ 1987 về viem khop dang thap: Gồm 7 điểm, trong đó tiêu chuẩn từ 1 - 4 phải có thời gian ít nhất 6 tuần, chẩn đoán dương tính cần ít nhất 4 tiêu chuẩn, đó là:
Cứng khớp buổi sáng: kéo dài ít nhất 1 giờ.
Sưng đau ít nhất 3 nhóm khớp trong số 14 nhóm: ngón tay gần, bàn ngón tay, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân (2 bên = 14).
Sưng đau 1 trong 3 khớp của bàn tay: ngón gần, bàn ngón, cổ tay.
Sưng khớp đối xứng.
Có hạt dưới da.
Phản ứng tìm yếu tố thấp huyết thanh dương tính (Waaler-Rose +).
Hình ảnh X quang điển hình.
Tuyến cơ sở thiếu cận lâm sàng: chẩn đoán có thể dựa vào các điểm sau:
Phụ nữ 30-50 tuổi.
Viêm nhiều khớp xa gốc chi.
Khởi đầu từ từ, tiến triển ít nhất 6 tuần.
Đau trội về đêm và cứng khớp buổi sáng.
Chẩn đoán phân biệt
Giai đoạn đầu (< 6 tuần):
Thấp khớp cấp: dựa vào tuổi, tính chất viêm...
Thấp khớp phản ứng: sau các bệnh nhiễm khuẩn, không đối xứng.
Hội chứng Reiter: Viêm khớp, viêm niệu đạo và kết mạc mắt.
Giai đoạn sau (> 6 tuần):
Thoái khớp: lớn tuổi, không có dấu viêm.
Đau khớp trong bệnh tạo keo nhất là luput ban đỏ.
Viêm cột sống dính khớp: nam giới, đau cột sống lưng, thắt lưng cùng chậu.

Saturday, March 22, 2014

Thoát vị đĩa đệm và cách phòng tránh bệnh

Thoát vị đĩa đệm là hiện tượng đĩa đệm bị dịch chuyển ra khỏi vị trí của nó ở bên trong cột sống, có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh như thoái hóa đĩa đệm, nứt rách, bệnh này gây đau đớn và ảnh hưởng rât nhiều đến đời sống hàng ngày của người bệnh
thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm (ảnh minh họa)
Dấu hiệu nhận biết bệnh thoái hóa cột sống
Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ đoạn nào của cột sống, Thoát vị cũng có thể không nhận biết được khi không có triệu chứng vì nó không gây đè ép vào rễ dây thần kinh. Hiện nay nhờ có chẩn đoán hình ảnh nên chúng ta phát hiện được cả thoát vị có triệu chứng (đau) và không có triệu chứng. Các triệu chứng chính của thoát vị là:
Đau kịch phát khi ta kích thích nhóm cơ: khi cúi, khi ho hắt hơi hoặc gắng sức. Đau tăng lên khi ngồi lâu, hoặc tư thế đứng hoặc nằm sấp.
Nếu thoát vị vùng thấp của lưng: sẽ gây đau lưng, có kết hợp hoặc không triệu chứng đau dọc dây Thần kinh tọa.
Nếu thoát vị đĩa đệm vùng cổ: sẽ có triệu chứng cứng và đau cổ. Đau lan ra 2 vai và cánh tay (thường là một bên), kèm theo có cảm giác tê kiến bò và nặng tay hoặc yếu cẳng hoặc cánh tay.
Nguyên nhân gây bệnh
Thoát vị đĩa đệm thường do thoái hóa đĩa đệm tăng lên theo tuổi tác. Đĩa đệm sẽ dần bị mất nước, từ đó mất đi độ mềm mại và dễ bị xẹp hoặc nứt khi có áp lực tác động lên, thậm chí chỉ là tác động đè nén hay vặn xoắn nhẹ.
Hầu hết mọi người đều không thể chỉ ra nguyên nhân chính xác tại sao mình bị thoát vị đĩa đệm. Đôi khi là do bạn dùng cơ lưng thay vì cơ đùi và chân để nhấc vật nặng khiến cho cột sống bị vặn xoắn quá mức.
Phụ nữ mang thai và quá tải trọng lượng cũng làm tăng áp lực gánh nặng thêm cho cột sống.
Tiền sử gia đình là một yếu tố nguy cơ. Nếu trong gia đình có thành viên bị thoát vị đĩa đệm thì trong trường hợp này người trẻ cũng bị thoát vị do cấu trúc đĩa đệm và cột sống bị yếu.
Khi nào phải đi khám bệnh?
Những trường hợp nên đi khám Bác sỹ Chuyên khoa ngay là:
Khi bệnh nhân bị đau lưng >1 tuần gây khó chịu cho hoạt động thường ngày.
Đau lưng xảy ra ngay sau ngã hoặc sau chấn thương
Cơn đau đánh thức vào ban đêm
Đau kèm sốt và gầy sút chưa rõ nguyên nhân.
Thoát vị thông thường nếu được chăm sóc tốt sẽ ổn sau đợt điều trị khoảng 4-6 tuần, nếu không đỡ cần khám và tiếp tục liệu trình điều trị mới.
Những trường hợp đau lưng có kèm rối loạn cơ tròn, (bí đại tiểu tiện hoặc ỉa đái không tự chủ, hoặc yếu chi), nên đi khám cấp cứu.
Một vài phương pháp phòng tránh bệnh thoát vị đĩa đệm
Sống lành mạnh
Tập thể dục đều đặn, và nên khởi động tốt trước khi bắt tay vào việc.
Tập củng cố cho cơ thân, cơ bụng, cơ cổ lưng (có bài tập của các huấn luyện viên, chuyên gia vật lý)
Duy trì chỉ số khối cơ thể trong giới hạn bình thường (không quá béo và không quá gầy)
Tư thể đúng
Tư thế thẳng, đầu thẳng, nhìn thẳng, vai hướng ra sau.
Khi vác vật nặng, không để vặn cột sống mà nên gập gối, thẳng lưng, bê vật gần người nhất.
Khi lao động xúc đất cát, nên để lưng thẳng bằng cách, bước một chân lên trước và chùng gối xuống, lấy gối làm điểm tì để làm việc tránh gây xoắn vặn cột sống.
Trong công việc
Nếu phải đứng lâu, nên dùng ghế tựa thấp để chân, thay đổi chân từng bên cứ 5-10 phút đặt lên ghế/ lần.
Nếu phải ngồi lâu hàng giờ trong công sở hoặc lái xe lâu, nên có thời gian nghỉ để tránh căng cứng các cơ
Dùng ghế văn phòng thẳng để giúp cột sống luôn thẳng.
Khi ngồi làm việc có thể để gác chân cao hơn 1 chút so với háng.
Dùng ghế xoay để hạn chế xoắn vặn cột sống
Ngoài ra bạn cũng cần để ý khi có túi sách nên đeo trên vai hơn là cầm tay, tốt nhất là đeo trên hai vai cân đối. Khi xử lý vât nặng, động tác đẩy vật nặng được ưu tiên, tránh kéo vật nặng dễ gây sang chấn. Tránh đi giày, guốc cao quá (phần gót cao trên 5cm). Nên dùng giày dép vật liệu mềm.
Xem thêm thoai hoa cot song
Sưu tầm

Thoái hóa cột sống là gì

Thoai hoa cot song là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng đau lưng, gây khó khăn trong vận động cũng như trong cuộc sống của người bệnh.
thoai hoa cot song

Xem thêm bệnh thoát vị đĩa đệm

Như mọi người đã biết, cột sống là khung đỡ của toàn bộ cơ thể. Theo năm tháng, do ảnh hưởng từ môi trường, chế độ ăn uống, tư thế vận động, sinh hoạt, luyện tập và chịu sức nặng cơ thể mà bị yếu đi, lão hoá và sức nâng đỡ kém. Sau đây mà một vài yếu tố đã đẩy nhanh quá trình thoai hoa cot song của con người:
- Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ.
- Làm việc, lao động nặng quá sớm và quá sức. Ví dụ như mang vác, gồng gánh nặng từ lúc 12, 13 tuổi, khi mà khung xương còn đang trong giai đoạn phát triển, chưa định hình, hoàn thiện.
- Tập luyện thể dục, thể thao không hợp lý.
- Thường xuyên mang, vác, đẩy, kéo các vật nặng không đúng tư thế.
- Ngồi quá nhiều hoặc luôn luôn làm việc ở một tư thế ít thay đổi.
- Trọng lượng quá mức cho phép khiến cột sống luôn phải gắng đỡ cơ thể.
- Thông thường, bệnh xuất hiện ở người có tuổi từ 35, 40 trở lên. Tỷ lệ bị thoái hoá cột sống ở nam và nữ là gần như nhau mặc dù nguyên nhân là tương đối khác nhau ở hai giới. Nếu như ở nam giới phần lớn là do lao động nặng, chơi thể thao quá độ, thì nữ giới là do thiếu hụt canxi, hậu quả của việc mang thai và sinh nở mà không được bù đắp kịp thời và đầy đủ.
Biểu hiện của thoai hoa cot song
- Biểu hiện rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, cảm giác khó chịu, bức bối trong cơ thể, dáng đi không bình thường, vẹo vọ hoặc lưng còng xuống... Nếu gặp phải những hiện tượng như vậy, có thể bạn đã bị thoai hoa cot song
- Nếu như đau lưng do bị thận hoặc một số bệnh khác thường diễn ra theo cơn, dữ dội, thì đau lưng do thoai hoa cot song lại thường âm ỉ, rả rích ngày này qua tháng khác. Đau chủ yếu ở vùng thắt lưng và cổ, gáy. Cảm giác khó chịu kèm theo khiến bạn mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.
- Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.
Phương pháp điều trị bệnh
- Có nhiều phương pháp được sử dụng hiện nay tại các bệnh viện là: Dùng thuốc, thuỷ châm, châm cứu, kéo giãn cột sống, vật lý trị liệu v.v... Tất cả các phương pháp này đều phải được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định thực hiện.
- Khi ở nhà, nếu bị đau lưng, bạn nên lập tức nằm nghỉ, thư giãn. Nhưng cũng không được nằm quá lâu khiến máu khó lưu thông, tăng cảm giác mệt mỏi. Chỉ cần cảm thấy đỡ đau là bạn đã phải đi lại đôi chút. Nói chung, người bị thoai hoa cot song không nên ngồi một chỗ mà nên vận động nhẹ nhàng, tập thể dục vừa phải.
- Chườm nóng và xoa bóp được coi là biện pháp hữu hiệu tức thời. Tuy nhiên, có một sai lầm lớn là khi bị đau lưng, ta thường bóp dầu nóng, mật gấu và rượu. Làm như vậy sẽ khiến vùng bị đau có phản ứng co cơ, khiến cơn đau càng trầm trọng hơn.
- Khi đã cảm thấy khá hơn, bạn hãy bơi lội một chút. Theo các bác sĩ thì bơi lội chính là môn thể thao thích hợp nhất để chữa đau lưng, đặc biệt với các cơn đau cấp thì việc bơi trong bể nước ấm sẽ rất có hiệu quả.
- Khi đã từng bị đau lưng do thoai hoa cot song một lần thì nên giữ gìn, không để tái phát. Vì nếu những cơn đau lặp đi lặp lại sẽ càng ngày càng nặng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn chỉ cần đi, đứng, sinh hoạt trong tư thế hơi khác thường là đã bị đau lưng buốt nhói dữ dội.
- Cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và phải kiêng rượu, bia.
Phòng chống bệnh thoai hoa cot song
- Các bậc làm cha, làm mẹ cần quan tâm đến con trẻ trong việc ăn uống sao cho đủ chất, học tập và thể thao đúng mức. Ngày nay, những yếu tố dễ dẫn đến thoai hoa cot song sau này nếu không để ý từ khi còn bé là: trẻ có thể ngồi hàng giờ chơi games trước màn hình vi tính, xem tivi quá nhiều, ăn uống vô độ dẫn đến béo phì v.v...
- Với những người lao động trí óc, cứ ngồi làm việc khoảng 1 - 2 tiếng phải đứng dậy đi lại, tập một vài động tác có lợi cho lưng.
- Với người lao động chân tay, chú ý không mang vác quá sức. Với những vật quá nặng, không bao giờ được đứng cúi lưng để nhấc vật lên mà phải ngồi xổm xuống, nâng vật lên từ từ.
- Tập thể dục thường xuyên, đều đặn. Tập Thái cực quyền, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.
- Với phụ nữ có thai, việc luyện tập đúng phương pháp lại càng cần thiết để giúp cho cột sống thêm dẻo dai, tránh đau do phải đỡ thêm một phần trọng lượng lớn nữa ngoài cơ thể của chính người mẹ.
Sưu tầm


Friday, March 21, 2014

Thoái hóa khớp là gì?

Thoai hoa khop là một bệnh lý về khớp do sự phá huỷ sụn khớp và hệ thống bao khớp - dây chằng gây thoái hóa và biến dạng khớp
Thoai hoa khop
Bệnh thoái hóa khớp (ảnh minh họa)
Phân loại bệnh:
Thoai hoa khop nguyên phát: do lão hoá của mô khớp, hoặc do sụn khớp được tưới máu và nuôi dưỡng kém,… dẫn đến mất tính đàn hồi và khô cứng. Khi hoạt động, sụn chạm vào đầu xương, gây hoại tử ở nơi chịu áp lực mạnh nhất. Bệnh này chỉ gặp ở người trên 40 tuổi.

Thoai hoa khop thứ phát: thường do sự lão hoá sớm của sụn khớp, xuất hiện sau chấn thương làm tổn thương diện khớp, hoặc từ những chấn thương nhỏ nhưng tác động nhiều lần, khớp hoạt động quá tải; do di chứng của viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm đa khớp dạng thấp…

Những người béo phì cũng thường mắc chứng thoai hoa khop do quá nặng cân, các khớp luôn trong tình trạng bị sức ép lớn. Thoái hóa nguyên phát này thường trầm trọng hơn những nguyên phát. Ngoài ra, những yếu tố về thời tiết, khí hậu… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh xuất hiện.

Thoai hoa khop nguyên phát ở các khớp được xếp theo thứ tự “ưu tiên” như sau: Khớp liên đốt sống (trên dưới 50% các trường hợp), khớp gối (13%), khớp háng (8%), khớp liên đốt ngón tay (6%) và các khớp khác (20%).

Tổn thương ở khớp bắt đầu từ những hoại tử của sụn khớp, sau đó là sự phá huỷ hệ thống trượt ở những vùng tỳ đè của xương dưới dạng một dải xơ và đường viền xung quanh khớp, các gai xương ở ngoại vi khớp. Bao hoạt dịch dày lên, hình thành những đường vân, có thể sụn hoá. Sụn hoá của bao hoạt dịch rơi vào ổ khớp gây cản trở cho hoạt động của khớp. Các xơ co kéo gây nên tình trạng cứng khớp.

Bệnh thoai hoa khop nguyên phát hay gặp ở người 40-50 tuổi, và ở phụ nữ sau khi mãn kinh, nhưng điều nguy hiểm là thoái hoá khớp hầu như không có triệu chứng. Các dấu hiệu chỉ xuất hiện khi xương và hệ thống bao khớp hoạt dịch bị tổn thương thực sự. Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm với những giai đoạn được cải thiện theo cảm nhận chủ quan. Thể điển hình, người bệnh đau khớp vào buổi sáng, sau khi ngủ dậy; đau giảm sau khi khớp được hoạt động và hết đau khi nghỉ ngơi. Khớp không sưng và không có các dấu hiệu toàn thân.

Dấu hiệu nhận biết bệnh:

Đau khớp tăng khi hoạt động và giảm khi nghỉ ngơi; không có triệu chứng toàn thân như sốt…; những dấu hiệu viêm tại chỗ rất ít hoặc không có; dịch ổ khớp không có biểu hiện viêm, không có mủ; chụp Xquang thấy hẹp khớp, ăn mòn diện khớp…

Cần lưu ý phân biệt thoai hoa khop với viêm đa khớp dạng thấp: Viêm khớp tại chỗ rất rõ (sưng, nóng đỏ, đau), dịch ở khớp biểu hiện viêm; tốc độ lắng máu tăng…

Điều trị bệnh: có thể điều trị bằng hai phương pháp

Điều trị nội khoa: Ở giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, tránh tất cả những hoạt động gây đau. Dùng vật lý trị liệu để làm tăng tưới máu tại chỗ cho khớp.

Trong giai đoạn đau khớp cấp, bất động khớp, thậm chí bó bột là điều rất cần thiết (chỉ nên bất động trong thời gian ngắn để tránh cứng khớp). Ngay sau khi hết đau cấp, phải tập vận động khớp nhẹ nhàng, phù hợp.
Để dự phòng những tư thế xấu (khớp gối vẹo vào trong hoặc quay ra ngoài), hoặc để giảm đau, có thể sử dụng các loại: Băng, nịt, nẹp, khung đỡ,… hay đơn giản như là một chiếc gậy, một chiếc nạng nếu bị hư khớp chi dưới. Sử dụng thuốc, những thuốc cơ bản là thuốc chống viêm giảm đau, như aspirin và thuốc không có steroid (ibuprofen, diclofenac, indometacin…). Những thuốc an thần, đặc biệt nhóm diazepam có thể sử dụng trong trường hợp đau do co cơ, hoặc người bệnh quá lo lắng, nhưng không được dùng dài ngày vì dễ gây nghiện.

Điều trị ngoại khoa: Có ba loại phẫu thuật được áp dụng:

Phẫu thuật dự phòng nhằm lập lại tình trạng bình thường các khớp có nguy cơ bị thoái hoá như trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…

Phẫu thuật bảo tồn khi khớp chưa bị hư hỏng nặng, có thể sửa chữa đưa về điều kiện cơ học của chức năng bình thường

Phẫu thuật thay thế trong trường hợp khớp quá hư hỏng, không thể phục hồi được, có thể thay thế từng phần, thậm chí toàn bộ khớp bằng khớp nhân tạo.
Tri Thức Trẻ




Thursday, March 20, 2014

Tăng axit uric máu là biểu hiện của bệnh gì?

Tang axit uric mau dễ làm cho mọi người hiểu nhầm là benh gut hay còn gọi là thống phong(theo y học cổ truyền), đây là quan nim sai lm vì ch coi là có bnh gút khi Tang axit uric mau  đi kèm vi s lng đng axit uric và gây tn thương khp hay nhng t chc khác.
Tang axit uric mau
Tang axit uric mau (ảnh minh họa)
Bình thường lượng axit uric trong máu luôn được gi n đnh nng đ dưới 70mg/l (420 micromol/l) đi vi nam; 60mg/l (360 micromol/l) đi vi n và được gi mc đ hng đnh do có s cân bng gia quá trình tng hp và đào thi cht này. Bt kỳ nguyên nhân nào làm mt cân bng quá trình này (tăng tng hp hoc gim thi tr) đu làm tăng axit uric trong máu.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bị tang axit uric mau
Nhóm suy gim kh năng bài xut axit uric ng thn tiên phát đa nguyên nhân, đc bit trong trường hp ăn nhiu thc ăn cha nhân purin, nghin rượu. Loi này thường có tính cht gia đình, khi phát thường do ung quá nhiu rượu. Đây là nhóm hay gp nht (90% các trường hp).
Nhóm tăng to axit uric nguyên phát (bm sinh). Đây là nhóm nguyên nhân hiếm gp (dưới 1%) do có các bt thường v enzym: thiếu ht hoàn toàn hoc mt phn enzym hypoxanthine guanine phosphoribosyltransferase (HGPRT), hoc do tăng hot tính ca enzym phosphoribosylpyrophosphate (PRPP).
Nhóm nguyên nhân còn li (chiếm khong 10%) là tình trng tăng axit uric th phát: tăng sn xut axit uric do ăn ung nhiu thc ăn có nhân purin (đc bit các tht màu đ như chó, bò, dê, cá bin...); ung nhiu rượu; tăng hy tế bào gp trong bnh đa u tu xương, thiếu máu tan máu, bnh bch cu (leucemie), dùng hóa cht gây đc tế bào trong điu tr ung thư; bnh vy nến... Tăng axit uric th phát còn do gim bài tiết axit uric thn. Nhóm này có các nguyên nhân như nghin rượu, suy thn mn tính, tăng huyết áp, tình trng nhim toan ceton trong bnh đái tháo đường hay nhn đói lâu ngày, tình trng nhim toan lactic người nghin rượu.
Mt trong nhng nguyên nhân gây gim bài tiết axit uric là do s dng thuc. Các thuc thường gp là aspirin liu thp; phenylbutazone liu thp; đa s các thuc li tiu dùng kéo dài (tr nhóm spironolactone) như thiazide, furosemide; thuc điu tr lao như ethambutol, pyrazinamid; các thuc axit ethacrynic, axit nicotinic...

Điu trị bệnh như thế nào?
Li ích ca vic điu tr tình trng tang axit uric mau   nhng bnh nhân đã b cơn gút là điu đã được chng minh. Nó góp phn hn chế, ngng các cơn gút cp tái phát cũng như biến chuyn bnh thành gút mn tính có ht tophi, si thn - suy thn do gút. Tuy nhiên trong trường hp tang axit uric mau  không triu chng thì còn nhiu tranh cãi. Có nên điu tr h axit uric hay không, điu tr như thế nào? Qua nhiu nghiên cu cho thy không có nhng bng chng mnh m ng h vic dùng thuc h axit uric trong trường hp này. Ngược li vi li ích ít i thu được là vic bnh nhân phi mt nhiu chi phí cho điu tr cũng như tăng nguy cơ mc nhiu biến chng do dùng thuc.
Trong trường hp tăng axit uric không triu chng nên tuân theo ch dn sau: ch dùng thuc khi nng đ axit uric máu quá cao, trên 10-12mg/dl (khong 700 mmol/l) hoc khi có s sn xut axit uric cp tính, ví d trong điu tr hoá tr liu trong bnh ung thư gây hy tế bào nhiu. Có th dùng liu pháp d phòng tình trng Tang axit uric mau   nhng trường hp d đoán trước là s có tình trng tăng axit uric nhiu, cp tính như trên. Khi đó li ích thu được ch yếu là tránh được tình trng suy thn cp do tăng lng đng tinh th urat ng thn. Thuc la chn hàng đu trong các trường hp này là thuc c chế xanthine oxidase như allopurinol (zyloric), tisopurine (thiopurinol) hoc thuc tiêu axit uric (enzym uricase).
Các trường hp xét nghim thường xuyên có tình trng tăng axit uric trên 10 mg/dl mà kháng vi các bin pháp điu chnh chế đ ăn ung, hoc có tin s gia đình b gút, b si thn kèm Tang axit uric mau , có du hiu tn thương thn đu cn phi dùng các thuc gim axit uric. Lưu ý không dùng thuc nhóm tăng thi axit uric như probenecid qua thn nhng bnh nhân có mt trong các biu hin sau: tin s hoc đang có si thn, suy thn, có ht tophi và gim bài tiết urat qua thn.

Tt c các trường hp Tang axit uric mau  không có triu chng khác mc đ trung bình (dưới 10mg/dl) đu cn thc hin các chế đ ăn ung sinh hot hp lý như vi các bnh nhân b gút mà chưa cn dùng thuc h axit uric máu. 

Monday, March 17, 2014

Phương pháp điều trị bệnh thống phong

Thống phong hay còn có tên gọi khác là benh gut, đây là bệnh chỉ chứng đau nhức xương khớp do phong tà gây nên. Sau đây là một số phương pháp chữa bệnh thống phong các bạn có thể tham khảo
thống phong
Bệnh thống phong (ảnh minh họa)
Nguyên tắc điều trị bệnh thống phong:
Tắc giả thông chi (bế tắc thì phải khai thông).
Trị phong, tiên trị huyết; huyết hành; phong tất diệt (muốn trị phong thì trước hết phải trị huyết, huyết lưu thông được thì phong tự hết).
Cấp tắc kỳ trị tiêu, hoãn tắc kỳ trị bản (cấp tính thì chữa ngọn, mạn tính thì chữa gốc).
Công bổ kiêm thi (vừa công vừa bổ).
Do được xếp vào phạm trù chứng tý cho nên từ xa xưa tới nay, các thầy thuốc phương Đông đều dựa trên cơ sở của phép biện chứng về chứng tý để chữa thống phong.
Phương pháp biện chứng luận trị thống phong theo các thể lâm sàng bao gồm:
Thể phong thấp nhiệt:
Chủ chứng: Đau khớp đột ngột, thường vào lúc nửa đêm, người có khi phát sốt. tại khớp sưng, nóng, đỏ, cự án; lưỡi đỏ, rêu vàng, dày. Mạch huyền, hoạt sác.
Phép trị: Trừ thấp thanh nhiệt, tiết trọc thông lạc.
Phương dược: Thanh trọc thống tý thang (Nhẫn đông đằng: 30g; Hoàng bá: 15g; Ý dĩ: 30g; Thổ phục linh: 30g; Mao đông thanh: 30g; Huyền sâm: 15g; Đương quy: 12g; Một dược: 10g; Ngưu tất: 15g; Phòng kỷ: 15g; Tần giao: 15g; Thất diệp liên: 30g), sắc uống mỗi ngày một thang.
Thể khí trệ trọc ứ:
Chủ chứng: Khớp sưng đau, không đi lại được, hay tái phát, bệnh kéo dài dai dẳng, người mệt mỏi, ngực sườn đầy tức, lâu ngày khớp xương xơ cứng, biến dạng. lưỡi ám tối, rêu trắng dày. Mạch huyền, hoạt, sáp.
Phép trị: Hành khí, hoạt huyết, trừ ứ thông lạc.
Phương dược: Trừ ứ thông lạc thang (Hoàng kỳ: 30g; Thương truật: 15g; Ý dĩ: 30g; Tỳ giải: 30g; Mao đông thanh: 30 g; Xuyên sơn giáp: 15g; Đương quy: 12g; Ngưu tất: 15g; Xích thược: 15g; Uy linh tiên: 15g; Trần bì: 6g; Xuyên khung: 8g), sắc uống mỗi ngày một thang.
Thể tỳ hư trọc ứ:
Chủ chứng: Khớp đau ê ẩm, cử động không linh hoạt, chân tay tê bì nổi u cục, người mệt mỏi vô lực. Tâm quý, khí đoản, buồn nôn. Chất lưỡi hồng nhạt có ấn răng, rêu lưỡi trắng hoạt. mạch trầm hoãn, tế sáp.
Phép trị: Kiện tỳ tiết trọc, trừ ứ thông lạc.
Phương dược: Phong kỷ hoàng kỳ thang gia vị (Hoàng kỳ: 30g; Phòng kỷ: 15g; Bạch truật: 12g; Ý dĩ: 30g; Cam thảo: 6g;  Tỳ giải: 30g; Thổ phục linh: 30g; Tằm xa: 15g; Xích thược: 15g; Mao đông thanh: 30g), sắc uống mỗi ngày một thang.
Thể thận hư trọc ứ:
Chủ chứng : Bệnh kéo dài lâu ngày dai dẳng, khớp biến dạng nổi u cục, có biến chứng tại thận như viêm thận,soi than, đau đầu huyễn vựng, tiểu tiện ít, tâm quý, phù thũng. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch trầm huyền tế sáp.
Phép trị: Bổ thận tiết trọc, trừ ứ thông lạc.
Phương dược: Lục vị địa hoàng hoàn gia vị (Thục đia: 25g; Sơn dương: 12g; Phục linh: 15g; Sơn thù nhục: 12g; Trạch tả: 10g; Đan bì: 10g; Ích mẫu thảo: 30 g; Xa tiền thảo: 30g; Đỗ trọng: 15g; Hoàng kỳ: 30g), sắc uống mỗi ngày một thang.
Đông y có rất nhiều dạng để điều trị, bên cạnh việc dùng các thảo dược làm thuốc sắc uống thì việc tận dụng thảo dược làm thuốc bôi ngoài ra cũng được áp dụng trong điều trị bệnh thống phong:
Với thể phong thấp tê trở, dùng Cao phù hoàng (lá phù du, Sinh đại hoàng, Xích tiểu đậu cùng nghiền thành bột mịn theo tỷ lệ 4:6; trộn đều thành cao), bôi ngoài vết thương mỗi ngày một lần.
Với thể thấp nhiệt uẩn kết, dùng Trắc bách diệp 30g, Đại hoàng 30g, Hoàng bá 15g, Bạc hà 15g, Trạch lan 15g cùng nghiền thành bột, cho thêm mật ong và chút nước quấy thành hồ, bôi bên ngoài.
Với các thể ứ huyết, dùng Hồi dương ngọc long cao (Thảo ô, Ổi khương mỗi loại 90g; Xích thược, Bạch chỉ, Thiên nam tinh mỗi loại 30g; Nhục quế 15g, nghiền thành bột, trộn thành cao), bôi bên ngoài chỗ đau.
Với các thể ứ huyết trở lạc, dùng Quế xuyên ô, Chế thảo ô, Mộc qua, Hồng hoa mỗi loại 30g, cho thêm 2500ml nước đun thành 2000ml cao, rửa bên ngoài.
Với các thể thấp nhiệt tê trở, dùng liễu thụ hoa 30g, Kim tiền thảo 30g, bồ công anh 30g, thổ phục linh 30g, tử hoa địa đinh 30g, sinh đại hoàng 30g, cho lượng nước vừa đủ, đun trong 30 phút, sau đó rửa chỗ đau.

Wednesday, February 19, 2014

Một số lý do làm chị em mắc bệnh u nang buồng trứng

U nang buong trung là một benh phu nu thường gặp, thực chất đây là bệnh mà ở đó buồng trứng có một khối u phát triển bất bình thường, khối u này có thể là một tổ chức buồng trứng bình thường hoặc là sự tích tụ dịch tạo thành nang trên buồng trứng.

Sau đây là một số lý do làm cho chị em dễ mắc bệnh u nang buồng trứng phát triển ở chị em:
Sự rối loạn nội tiết cũng là nguyên nhân gây bệnh u nang buồng trứng
Rối loạn nôi tiết cũng là nguyên nhân gây ra bệnh u nang buồng trứng (Ảnh minh họa) 
- Nang trứng phát triển không đầy đủ, không hấp thụ được các chất lỏng trong buồng trứng. Điều này dẫn đến u nang - hình thức phổ biến nhất của u nang buồng trứng. Thông thường thì các u nang không có triệu chứng và chúng biến mất một cách tự nhiên trong vòng một vài tuần. Hiếm khi xuất huyết vỡ, hoặc xoắn có thể gây ra cơn đau cấp tính.

- Mạch máu của nang trứng bị vỡ dẫn đến u nang xuất huyết. Xuất huyết u nang không phải là không phổ biến, nhưng chúng thường không có triệu chứng. Khi vỡ sẽ gây đau cấp tính trong bụng.

- Thể vàng phát triển dẫn đến kinh nguyệt kéo dài. Thể vàng (đơn vị chức năng của buồng trứng) trong u nang hoạt động vượt tuyến làm cho chu kỳ kinh nguyệt kéo dài, kèm theo chảy máu nặng (giống các dấu hiệu đe dọa xảy thai). Trong những trường hợp hiếm khi xảy ra, các nang trứng bị vỡ, gây đau cấp tính ở bụng khiến cho các hình ảnh lâm sàng của thai ngoài tử cung bị xáo trộn.

- Dư thừa chorionic gonadotropin (HCG) dẫn đến u nang lutein. Dư thừa chorionic gonadotropin là do: Các khối u xuất hiện trong thời kì thai nghén, Rối loạn HCG để kích thích rụng trứng, Những khối u nang một sẽ tự biến mất một cách tự nhiên sau khi các khối u trong kì mang thai bị loại bỏ hoặc ngưng điều trị HCG.

- Sự kích thích buồng trứng của các hormone luteinizing (LH). Sự rối loạn nội tiết ở buồng trứng dẫn tới kết quả là buồng trứng đa nang. Biểu hiện lâm sàng của buồng trứng đa nang là:
+Gia tăng bệnh béo phì.
+Chu kỳ kinh nguyệt không đều.
+Vô sinh (do không có sự rụng trứng).
+Nam tính như: quá nhiều lông trên mặt (do dư thừa của androgen).

Kết luận: U nang buồng trứng là những thương tổn không ác tính, thường không có triệu chứng và thường tự “giải quyết” sau một thời gian. Sự rối loạn nội tiết hay các đơn vị chức năng của buồng trứng – thể vàng – hoạt động quá mức… là những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh u nang buồng trứng
>>>Xem thêm u xơ tử cung <<<
Nguyệt Hà